Mối liên quan giữa dinh dưỡng và bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi

Dinh dưỡng trong giai đoạn phát triển của cuộc đời có thể đóng một vai trò lớn hơn những gì đã được nhận ra trong việc ngăn ngừa nhiều thay đổi từng được cho là hậu quả không thể tránh khỏi của việc lão hóa.

Thực tế rằng chỉ khi xuất hiện các triệu chứng lão hóa, con người mới vội vã tìm mọi phương cách nhằm đảo ngược các quá trình này. Tuy nhiên, kết quả sẽ không đáp ứng được kỳ vọng nếu chỉ dựa vào thuốc mà bỏ qua chế độ dinh dưỡng.

Các cuộc thảo luận sau đây về bệnh đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng, viêm khớp và thoái hóa não hay teo não cho thấy dinh dưỡng có thể cung cấp ít nhất một số biện pháp bảo vệ chống lại một số tình trạng thường liên quan đến lão hóa.

1. Đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng

Đục thủy tinh thể

Là sự dày lên do tuổi tác trong thủy tinh thể của mắt làm suy giảm thị lực. Nếu không được phẫu thuật cắt bỏ, cuối cùng chúng sẽ dẫn đến mù lòa. Stress oxy hóa dường như đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh đục thủy tinh thể nhưng việc bổ sung các chất dinh dưỡng chống oxy hóa (vitamin C, vitamin E và carotenoid) dường như không ngăn chặn hoặc làm chậm sự tiến triển.

Để so sánh, một chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm nhiều trái cây và rau quả giàu chất chống oxy hóa này dường như làm chậm sự tiến triển hoặc giảm nguy cơ phát triển bệnh đục thủy tinh thể.

Nguyên nhân gây đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể có thể hình thành do tiếp xúc với đèn cực tím, tổn thương oxy hóa, nhiễm virus, chất độc hại, rối loạn di truyền, chấn thương khác. Hầu hết các trường hợp đục thủy tinh thể được gọi một cách mơ hồ là đục thủy tinh thể do lão hóa. Ở Hoa Kỳ, một nửa số người trưởng thành bị đục thủy tinh thể ở tuổi 75.

Một yếu tố khác liên quan đến chế độ ăn uống có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của bệnh đục thủy tinh thể là béo phìBéo phì có thể ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của bệnh đục thủy tinh thể vẫn chưa được biết. Các yếu tố nguy cơ thường đi kèm với thừa cân, chẳng hạn như không hoạt động, tiểu đường hoặc tăng huyết áp, không giải thích được mối liên quan.

Nguyên nhân hàng đầu gây mất thị lực ở người lớn tuổi là thoái hóa điểm vàng, một vùng điểm vàng của mắt bị suy giảm. Cũng như bệnh đục thủy tinh thể, các yếu tố nguy cơ gây thoái hóa điểm vàng do tuổi tác bao gồm stress oxy hóa từ ánh sáng mặt trời.

Dinh dưỡng
Nghiên cứu cho thấy rằng folate, vitamin B6, vitamin B12 và carotenoids lutein và zeaxanthin có thể giúp ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng hoặc làm chậm sự tiến triển của nó..

Chế độ dinh dưỡng giúp giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng

Một chất bổ sung có chứa chất chống oxy hóa vitamin C và E, và các khoáng chất đồng và kẽm đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ tiến triển của bệnh thoái hóa điểm vàng ở những người đã mắc bệnh.

Nghiên cứu cho thấy rằng folate, vitamin B6, vitamin B12 và carotenoids lutein và zeaxanthin có thể giúp ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng hoặc làm chậm sự tiến triển của nó, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm để xác nhận những mối quan hệ có thể có này.

2. Viêm khớp

Hàng triệu người cao tuổi có nguy cơ mắc một số dạng viêm khớp. Loại viêm khớp phổ biến nhất khiến người già giảm vận động là viêm xương khớp, một chứng đau sưng khớp. Trong quá trình vận động, các đầu xương thường được bảo vệ khỏi sự mài mòn bởi sụn và các túi nhỏ chất lỏng bôi trơn khớp. Theo tuổi tác, sụn đôi khi bị phân hủy, các khớp bị biến dạng và gây đau đớn khi cử động.

Béo phì phổ biến ở người lớn bị viêm khớp. Giảm cân có thể giúp những người thừa cân giảm viêm xương khớp, một phần vì các khớp bị ảnh hưởng thường là các khớp chịu trọng lượng, bị stress và kích thích do phải mang vác quá nặng.

Tuy nhiên, điều thú vị là giảm cân thường làm giảm cơn đau tồi tệ nhất của viêm xương khớp ở tay, mặc dù chúng không phải là khớp chịu trọng lượng. Điều quan trọng là, đi bộ và các hoạt động thể dục khác không làm trầm trọng thêm tình trạng viêm xương khớp. Trên thực tế, hoạt động aerobic và rèn luyện bài tập đề kháng mang lại những cải thiện khiêm tốn về hoạt động thể chất và giảm đau.

Can thiệp y học cho bệnh viêm khớp bao gồm thuốc và phẫu thuật. Hai chất bổ sung phổ biến để điều trị viêm xương khớp – glucosamine và chondroitin – có thể giảm đau và cải thiện khả năng vận động. Mối quan tâm liên quan đến dinh dưỡng trong giai đoạn cuối tuổi trưởng thành cần được nghiên cứu thêm. Thuốc và chất bổ sung được sử dụng để giảm viêm khớp có thể gây ra rủi ro về dinh dưỡng; một số ảnh hưởng đến sự thèm ăn và thay đổi việc sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.

Một loại viêm khớp khác, được gọi là viêm khớp dạng thấp, có thể có mối liên hệ với chế độ ăn uống thông qua hệ thống miễn dịch. Trong bệnh viêm khớp dạng thấp, hệ thống miễn dịch tấn công nhầm các lớp bọc xương như thể chúng được tạo ra từ mô lạ. Ở một số người, một số loại thực phẩm, đặc biệt là chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải gồm cá, rau và dầu ô liu, có thể điều chỉnh phản ứng viêm và giúp giảm đau nhẹ.

Các acid béo omega-3 thường được tìm thấy trong dầu cá có thể giúp ngăn ngừa bệnh viêm khớp dạng thấp cũng như giảm đau khớp và cải thiện khả năng vận động ở một số người mắc bệnh này và các sản phẩm giàu chất béo omega-3 từ cá — giúp ngăn ngừa hoặc giảm tình trạng viêm ở các khớp khiến bệnh viêm khớp trở nên đau đớn.

Hàng triệu người cao tuổi có nguy cơ mắc một số dạng viêm khớp. Loại viêm khớp phổ biến nhất khiến người già giảm vận động là viêm xương khớp, một chứng đau sưng khớp.

3. Bộ não lão hóa

Một trong những thách thức mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt khi nghiên cứu sự lão hóa của não người là phân biệt giữa những thay đổi gây ra bởi các quá trình sinh lý bình thường, liên quan đến tuổi tác; những thay đổi do bệnh tật gây ra; và những thay đổi do tích lũy, các yếu tố môi trường như chế độ ăn uống.

Bộ não thường thay đổi theo một số cách đặc trưng khi nó già đi. Đối với một số trường hợp, hệ thống cung cấp máu của nuôi não suy giảm. Mặt khác, số lượng tế bào thần kinh, tế bào não chuyên truyền thông tin. Mất tế bào thần kinh ảnh hưởng đến các chức năng khác nhau tùy thuộc vào vị trí của chúng trong não. 

Thiếu hụt chất dinh dưỡng và chức năng não

Các bác sĩ lâm sàng nhận ra rằng phần lớn tình trạng mất nhận thức và hay quên nói chung là do lão hóa một phần do các yếu tố môi trường, do đó có thể kiểm soát được, chẳng hạn như thiếu hụt chất dinh dưỡng.

Khả năng tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh cụ thể của tế bào thần kinh phụ thuộc một phần vào sự sẵn có của các chất dinh dưỡng tiền thân thu được từ chế độ ăn.

Ví dụ, chất dẫn truyền thần kinh serotonin có nguồn gốc từ acid amin tryptophan. Ngoài ra, các enzym tham gia vào quá trình tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh đòi hỏi vitamin và khoáng chất để hoạt động bình thường.

Các vitamin B folate, vitamin B6 và vitamin B12 làm chậm quá trình teo não và cải thiện khả năng nhận thức và trí nhớ. Một số nghiên cứu cho thấy rằng acid béo thiết yếu DHA có thể giúp chống lại sự suy giảm nhận thức thường thấy ở người lớn tuổi.

Do đó, sự thiếu hụt chất dinh dưỡng có thể góp phần làm mất trí nhớ và nhận thức mà một số người lớn tuổi gặp phải. Các mô hình ăn uống lành mạnh như chế độ ăn Địa Trung Hải, dường như làm chậm quá trình suy giảm nhận thức và giảm nguy cơ sa sút trí tuệ.

Trong một số trường hợp, mức độ mất nhận thức là rất lớn. Chứng mất trí nhớ tuổi già như vậy có thể là do một chứng rối loạn cụ thể như khối u não hoặc bệnh Alzheimer.

Bệnh alzheimer’s 

Trong bệnh Alzheimer, một dạng sa sút trí tuệ phổ biến nhất, sự chết của tế bào não xảy ra ở những vùng não điều phối trí nhớ và nhận thức.

Chẩn đoán bệnh Alzheimer phụ thuộc vào các triệu chứng đặc trưng của nó: Nạn nhân dần dần mất trí nhớ, khả năng suy luận, khả năng giao tiếp, khả năng thể chất , và cuối cùng là chính cuộc sống.

Yếu tố nguy cơ chính của bệnh Alzheimer là tuổi tác, nhưng nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết rõ. Rõ ràng, yếu tố di truyền có liên quan.

Các gốc tự do và stress oxy hóa dường như cũng có liên quan. Các tế bào thần kinh trong não của những người mắc bệnh Alzheimer cho thấy bằng chứng về sự tấn công của các gốc tự do — gây hại cho DNA, màng tế bào và protein — và các khoáng chất gây ra các cuộc tấn công này — sắt, đồng, kẽm và nhôm. Một số nghiên cứu cho thấy rằng các chất dinh dưỡng chống oxy hóa có thể hạn chế tác hại của các gốc tự do và trì hoãn hoặc ngăn ngừa bệnh Alzheimer.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy thừa cân và béo phì ở tuổi trung niên có liên quan đến chứng sa sút trí tuệ nói chung và bệnh Alzheimer nói riêng. Mối quan hệ có thể có giữa bệnh béo phì và bệnh Alzheimer đang gây lo ngại trong bối cảnh dịch bệnh béo phì hiện nay. 

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch như huyết áp cao, tiểu đường, béo phì, hút thuốc và ít vận động có liên quan đến sự phát triển của bệnh Alzheimer. Chế độ ăn được thiết kế để hỗ trợ trái tim khỏe mạnh, bao gồm acid béo omega-3 từ cá, cũng có thể có lợi cho sức khỏe não bộ. 

Duy trì trọng lượng cơ thể thích hợp có thể là mối quan tâm dinh dưỡng quan trọng nhất đối với người bị bệnh Alzheimer. Trầm cảm và hay quên có thể dẫn đến thay đổi hành vi ăn uống và ăn kém. Hơn nữa, những thay đổi trong hệ thống điều chỉnh trọng lượng của cơ thể có thể góp phần làm giảm cân.

Như vậy, việc hiểu rõ tầm quan trọng và điều chỉnh lối sống, chế độ dinh dưỡng ngay từ tuổi trung niên hay thấm chí thiếu niên giúp giảm các bệnh lý mắc phải khi cao tuổi. Những thực phẩm chống oxy hóa, cung cấp vitamin nhóm B, Omega – 3… góp phần bảo vệ các cơ quan như mắt, não, và các cơ quan khác. Giảm cân, tránh biến động cân nặng quá mức, tránh lối sống tĩnh tại ngay từ tuổi trung niên giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lý lão hóa sau này.

Nguồn:

  1. W. G. Christen and coauthors, 2015, Age-related cataract in men in the Selenium and Vitamin E Cancer Prevention Trial Eye Endpoints Study: a randomized clinical trial, JAMA Ophthalmology.
  2. D. S. Lee and coauthors, The gender-dependent association between obesity and age-related cataracts in middle-aged Korean adults, PLoS One 10 (2015); C. W. Pan and Y. Lin, Overweight, obesity, and age-related cataract: A meta-analysis, Optometry and Vison Science 91 (2014); J. Ye and coauthors, Body mass index and risk of age-related cataract: A meta-analysis of prospective cohort studies, (2014).
  3. Centers for Disease Control and Prevention, Arthritis, www.cdc.gov/ arthritis/data_statistics/national-statistics.html.
  4. L. Ronan and coauthors, Obesity associated with increased brain-age from mid-life, Neurobiology of Aging 47 (2016); J. C. D. Nguyen, A. S. Killcross, and T. A. Jenkins, Obesity and cognitive decline: Role of inflammation and vascular changes, Frontiers in Neuroscience 8 (2014).

Theo BS Hồng Quân – Cố vấn LMS

Xem thêm: Tổ yến và lợi ích sức khỏe tuyệt vời!

Chia sẻ :
Share on facebook
Share on email
Tin liên quan

THAY ĐỔI CƠ THỂ NGAY HÔM NAY

Liên hệ để được đội nhóm tư vấn trực tiếp

Hotline

0984.641.264

Email

lmsgiambeochuanykhoa@gmail.com

Address

566 Lê Duẩn, Phường Eatam, Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk

THAY ĐỔI CƠ THỂ NGAY HÔM NAY

Liên hệ để được đội nhóm tư vấn trực tiếp

Hotline

0984.641.264

Email

lmsgiambeochuanykhoa@gmail.com

Address

566 Lê Duẩn, Phường Eatam, Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk